Bệnh thận mạn và những thông tin liên quan

Bệnh thận mạn được định nghĩa là tình trạng tổn thương thận liên tục kéo dài đi kèm với giảm mức lọc cầu thận (glomerular filtration rate – GFR) và xuất hiện albumin trong nước tiểu. Tăng huyết áp xảy ra ở 85-95% bệnh nhân mắc bệnh thận mạn (giai đoạn 3-5). Tăng huyết áp và bệnh thận mạn về bản chất có mối quan hệ qua lại.

Sinh lý bệnh thận mạn

Tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh thận mạn do những ảnh hưởng xấu của việc huyết áp tăng tác động đến mạch máu thận. Tình trạng tăng huyết áp, không được kiểm soát kéo dài gây ra áp lực cao trong cầu thận, làm giảm mức lọc cầu thận. Tổn thương trên tiểu cầu thận làm đẩy mạnh quá trình lọc protein, do đó, làm tăng bất thường lượng protein trong nước tiểu (albumin niệu vi thể hoặc protein niệu). Albumin niệu vi thể là sự xuất hiện của một lượng nhỏ albumin trong nước tiểu và thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh thận mạn. Protein niệu (tỷ lệ protein/creatinin ≥ 200mg/g) tăng theo tiến triển bệnh thận mạn và thường liên quan đến tiên lượng xấu về cả bệnh thận và bệnh tim mạch.

Bệnh thận mạn

Bệnh thận mạn

Các giai đoạn của bệnh thận mạn

Mức lọc cầu thận – chỉ số đánh giá chức năng lọc chất cặn bã của thận được sử dụng để phân loại các giai đoạn của bệnh thận mạn. Hiệp hội Thận Quốc gia Hoa Kỳ định nghĩa bệnh thận mạn xảy ra khi hoặc có tổn thương thận xác định bởi các chất đánh dấu trong nước tiểu hoặc quan sát thấy máu, có thể có hoặc không có sự thay đổi mức lọc cầu thận; hoặc có mức lọc cầu thận giảm dưới 60 ml/phút/1,73 m2 trong ít nhất ba tháng. Bảng 1 mô tả tiêu chuẩn phân loại các giai đoạn của bệnh thận mạn theo hướng dẫn của tổ chức Kidney Disease Outcomes Quality Initiative (K/DOQI).

Mục tiêu điều trị bệnh thận mạn

Huyết áp mục tiêu của bệnh nhân mắc bệnh thận mạn kèm hoặc không kèm đái tháo đường là dưới 130/80 mmHg. Mục đích của việc giảm huyết áp ở bệnh nhân mắc bệnh thận mãn tính là để giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong do bệnh thận và bệnh tim mạch. Việc kiểm soát được huyết áp và giảm protein niệu ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn và tăng huyết áp đóng vai trò quan trọng cho việc ngăn chặn quá trình tiến triển của bệnh thận và sự phát triển hoặc trầm trọng hơn của bệnh tim mạch.

Các tài liệu y văn gần đây cho rằng huyết áp mục tiêu cần đạt được của bệnh nhân mắc bệnh thận mạn do đái tháo đường và không do đái tháo đường nên được cá thể hóa trên từng bệnh nhân dựa trên sự có mặt của protein niệu. Kết quả từ một số thử nghiệm lâm sàng đã không chỉ ra được sự giảm biến chứng trên thận và tim mạch ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn kèm hoặc không kèm đái tháo đường khi huyết áp mục tiêu đạt được dưới 130/80 mmHg so với khi giảm huyết áp xuống dưới 140/90 mmHg. Tuy nhiên, bệnh nhân có protein niệu khi đạt được mức huyết áp mục tiêu thấp hơn ít bị giảm chức năng thận, suy thận hoặc tử vong hơn. Vì vậy, các hướng dẫn điều trị trong tương lai có thể sẽ đưa ra mức huyết áp mục tiêu thấp hơn, dưới 130/80 mmHg, cho bệnh nhân có protein niệu và giữ mức huyết áp mục tiêu dưới 140/90 mmHg với bệnh nhân không có protein niệu.

Xem thêm: http://chuabenhthan.info/than-yeu-gay-rung-toc-thu-pham-chinh-ma-nhieu-nguoi-khong-biet/

 

About author

You might also like

Tin Y Học

Mẹo hay trị đau bụng trên rốn ở giữa ngay tại nhà

Đau bụng là một bệnh rất thường xuyên gặp phải trong cuộc sống từng ngày của mỗi các bạn, một đời người có thể trải qua vài đợt đau nặng

Tin Y Học

Khái niệm về viêm đại tràng và chế độ ăn uống cho người bệnh

Có một cuộc  khảo sát chỉ ra rằng tỷ lệ số người biến về căn bệnh viêm đại tàng ở nước ta rất thấp. Việc thiếu kiến thông tin và

Tin Y Học

Nguyên nhân và cách phòng tránh bệnh xơ gan cổ chướng

Xơ gan cổ chướng là bệnh xơ gan nặng có tiền sử là bệnh nhân xơ gan, sau đó phát triển thành lên thành xơ gan cổ chướng. Theo thống

0 Comments

No Comments Yet!

You can be first to comment this post!